ĐIỀU TRỊ SUY GIÃN TĨNH MẠCH CHI DƯỚI BẰNG NĂNG LƯỢNG LASER SINH HỌC.

Tác giả: Đại tá.Thạc sĩ Vũ Ngọc Tuấn- Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Y sinh học Việt Nam.

Điện thoại: 0983416172


Mục đích: Giới thiệu một giải pháp công nghệ trong điều trị bệnh “Suy giãn tĩnh mạch” bằng phương pháp không dùng thuốc, an toàn, hiệu quả, kinh tế, rễ áp dụng, có thể phổ cập tại các tổ chức y tế. Có tác dụng điều trị tận gốc nguyên nhân gây bệnh, khai thác triệt để khả năng tự chữa bệnh của cơ thể, đem lại hiệu ích lớn trong việc xác lập lại trật tự về cấu trúc và chức năng của từng phần, từng bộ phận và toàn cơ thể … đồng thời hỗ trợ tốt cho việc điều trị các bệnh liên quan đến tim mạch, rối loạn chuyển hóa, thần kinh thực vật, bệnh tự miễn, dự phòng tai biến , đột quỵ, đau đầu, mất ngủ……nâng cao chất lượng cuộc sống, hữu ích trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Khái niệm: Suy giãn tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh lý khá thường gặp, chiếm khoảng 40,5% người trên 50 tuổi( tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi tác), nữ giới gấp 4,25 lần so với nam giới. Bệnh có thể mắc ở tĩnh mạch nông, tĩnh mạch xuyên, tĩnh mạch sâu hoặc ở cả 3 hệ tĩnh mạch của chi dưới
1. Cấu trúc, chức năng của hệ thống tĩnh mạch chi dưới.
1.1. Vị trí phân bố.
Bao gồm 02 hệ thống tĩnh mạch quan trọng: Tĩnh mạch sâu và tĩnh mạch nông.
-Hệ thống Tĩnh mạch sâu nằm dưới lớp mạc cân cơ, gồm các cặp tĩnh mạch chày trước, chày sau, mác, đi song song và kèm theo động mạch đảm nhận đến 90% lượng máu được dẫn về tim.
-Hệ thống tĩnh mạch nông, bao gồm tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé và các nhánh dưới da khác nằm chằng chịt dưới da, phía trên lớp mạc cân cơ, Đưa 10% lượng máu còn lại dẫn về tim.
-Ngoài ra, hệ tĩnh mạch chi dưới còn có các nhánh nối liên kết các tĩnh mạch lớn trong cùng một hệ thống và các nhánh xuyên thông nối giữa tĩnh mạch nông và tĩnh mạch sâu.
1.2. Cấu tạo mô học của thành tĩnh mạch: được cấu tạo gồm 3 lớp:
– Lớp trong: gồm các tế bào nội mạc
– Lớp giữa: Gồm các tế bào cơ trơn, mô liên kết và mô đàn hồi
– Lớp ngoài : cấu tạo bởi mô liên kết, có các nhánh mạch máu nuôi tĩnh mạch bạch huyết,kích thích co mạch.
Thành tĩnh mạch được nuôi dưỡng bởi sự thẩm thấu máu từ trong lòng tĩnh mạch.Tĩnh mạch có các van, là sự dày lên của lớp nội mạc trồi vào lòng mạch. Các van này có chức năng không cho máu đi ngược trở xuống. Số lượng van nhiều trong hệ tĩnh mạch sâu hơn hệ tĩnh mạch nông và nhiều trong các nhánh nhỏ ở xa hơn là các nhánh lớn ở gần. Tĩnh mạch chậu và tĩnh mạch chủ dứơi, hầu như không có van.
1.3.Chức năng tĩnh mạch chi dưới:
– Hồi lưu máu từ chân về tâm thất phải
– Bể chứa máu (65 – 75% lượng máu cơ thể)
– Điều hòa cung lượng tim
– Điều hòa nhiệt độ da dưới các điều kiện thời tiết.
1.4. Đường hồi lưu máu tĩnh mạch chi dưới về tim theo cách sau:
– Máu từ nông vào sâu nhờ các nhánh xuyên và từ tĩnh mạch hiển lớn đổ trực tiếp vào tĩnh mạch đùi chung, tĩnh mạch hiển bé đổ trực tiếp vào tĩnh mạch khoeo.
1.5. Máu đi từ dưới lên trên chi phối bởi các yếu tố sau:
– Sức ép của bàn chân khi bước đi
– Lực bóp của khớp và cơ
– Hệ thống van chỉ cho máu đi từ nông vào sâu và từ dưới lên.
– Các yếu tố khác : Trương lực tĩnh mạch, co thắt mạch máu do tư thế, sự lan truyền của lực co bóp của động mạch đi kế bên, lực hút của cơ hoành, lực hút của tim
2. Bệnh lý tĩnh mạch có 3 nhóm bệnh sau:
2.1. Suy tĩnh mạch mạn tính: là sự sai hỏng của hệ thống van một chiều ở tĩnh mạch chi dưới gây ra sự trào ngược của dòng máu hướng tâm, sảy ra ở cả 3 hệ tĩnh mạch nông, sâu và xuyên.
2.2. Giãn tĩnh mạch: là sự giãn to, dài ra tại một đoạn tĩnh mach nằm ngoằn ngoèo ngay dưới da. Có thể do nguyên phát hoạc thứ phát gây ra.
-Nguyên phát: Sự giãn nở của một đoạn tĩnh mạch làm mất chức năng cản máu chảy ngược về của các van tĩnh mạch.
– Thứ phát : Sự suy van tĩnh mạch gây nên tình trạng ứ trệ làm giãn nở một đoạn tĩnh mạch.
2.3. Viêm tắc tĩnh mạch: do các cục máu đông hoạc sự sơ vữa gây tắc tĩnh mạch.
2.4. Cấp độ của bệnh: Có thể phân ra 04 cấp độ như sau:
 Cấp độ 1: Thời kỳ ủ bệnh, chưa có triệu chứng cụ thể.
 Cấp độ 2: Suy tĩnh mạch nhẹ, phù ở mắt cá chân, giãn tĩnh mạch.
 Cấp độ 3: Suy tĩnh mạch trung bình, viêm da, phù, xơ mỡ da, giãn tĩnh mạch.
 Cấp độ 4: Suy tĩnh mạch nặng, phù rõ, tổn thương loạn dưỡng da, loét.
3. Nguyên nhân gây bệnh.
Cho đến nay nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được hiểu rõ ràng, có thể do một số nguyên nhân sau:
3.1. Thay đổi cấu trúc thành tĩnh mạch:
Thành tĩnh mạch gồm hai loại tế bào cơ trơn: dạng co giãn và dạng chuyển hóa.
Tế bào cơ trơn dạng co giãn bảo đảm trương lực thành tĩnh mạch. Trong bệnh giãn tĩnh mạch, số lượng tế bào cơ trơn dạng chuyển hóa tăng lên và tế bào dạng co giãn giảm xuống. làm cho thành tĩnh mạch giãn và mất trương lực.
3.2. Thay đổi cơ học:
Thành tĩnh mạch bị giãn căng vì ứ máu kéo dài, liên quan đến các nghề nghiệp phải đứng hay ngồi quá lâu hoặc tĩnh mạch bị nghẽn tắc do các khối u, nhiễm trùng, nhiễm độc, chấn thương.
3.3. Thiểu năng van tĩnh mạch:
Thiểu năng nguyên phát hoặc thứ phát các van tĩnh mạch do nhiều nguyên nhân gây ra.
3.4. Thần kinh – nội tiết:
Do rối loạn chức năng thần kinh, nội tiết của cơ thể, làm biến đổi cấu trúc thành tĩnh mạch.
Bệnh có liên quan tới yếu tố di truyền, lứa tuổi, thai kì …cụ thể: Bệnh tăng dần theo tuổi. Ở độ tuổi 70, có tới 70% dân số bị suy tĩnh mạch; Di truyền: tần suất mắc bệnh cao gấp 2 lần trong gia đình có tiền sử suy tĩnh mạch; Giới tính: Bệnh ở phái nữ cao hơn là phái nam 9 lần; Thai: Nguy cơ mắc bệnh giãn tĩnh mạch cao ở phụ nữ đa thai; Nghề nghiệp: công việc đòi hỏi đứng hay ngồi lâu, làm việc trong môi trường nóng, nâng vật nặng sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh; Béo phì: làm tăng nguy cơ bị bệnh, đặc biệt là ở nữ.
4. Chẩn đoán bệnh.
4.1. Triệu chứng cơ năng:
-Cảm giác đau, nặng chân nhất là về chiều, tê, nóng rát, ngứa.
– Phù chân nhẹ, thường là ở vùng cổ chân, nặng dần về chiều, sau một ngày làm việc, giảm khi nằm kê chân cao, tiếp xúc với lạnh hoặc mang vớ thun băng ép.
– Một số triệu chứng khác có thể liên quan đến suy tĩnh mạch mạn tính như vọp bẻ vào ban đêm, chuật rút , cảm giác mỏi chân, bứt rứt khó chịu.
4.3. Cận lâm sàng:
4.3.1. Siêu âm Doppler màu: Đánh giá chức năng van của tĩnh mạch hiển, các nhánh xuyên, tĩnh mạch sâu. cho kết quả chính xác và có thể thực hiện nhiều lần.
4.3.2. Đo dung tích tĩnh mạch khi vận động: Đánh giá chức năng bơm của khối cơ và khớp cũng như chức năng của các van hệ sâu và nông
4.3.3. Chụp tĩnh mạch giãn cản quang: đánh giá mối quan hệ giữa các tĩnh mạch giãn với hệ thống sâu và các tĩnh mạch hiển. Ngoài ra, còn cho thấy vị trí, chức năng van của các nhánh xuyên, nơi đổ vào tĩnh mạch sâu của tĩnh mạch hiển lớn và bé.
5. Nguy cơ và biến chứng.
5.1. Nguy cơ:
Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sẽ tiến triển nặng dần. Theo diễn biến lâm sàng, bệnh được chia thành 2 giai đoạn:
Thời kỳ ủ bệnh: Bệnh nhân có cảm giác tức, nặng và mỏi ở chi dưới khi đứng lâu, có thể xuất hiện phù nề nhẹ ở cẳng, bàn chân vào cuối ngày làm việc, nghỉ ngơi thì hết phù nề. Các tĩnh mạch nông ở chân giãn chưa nhiều, không thường xuyên. Khi gần phát bệnh, các triệu chứng biểu hiện rõ hơn, có cảm giác đau tức nhiều ở cẳng chân khi đi lại, phù chân xuất hiện ngay cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi. Hiện tượng chuật rút nhiều hơn. Các quai tĩnh mạch nông giãn to hơn.
Thời kỳ phát bệnh: Thường xuyên tê chân, ngứa da vùng tổn thương, đau chân khi đi bộ. phù nề không thuyên giảm khi nghỉ ngơi. Các tổn thương da như viêm da, xơ cứng da, loét…bắt đầu xuất hiện.
5.2. Biến chứng:
5.2.1. Gây quá tải hệ thống tĩnh mạch sâu gây suy tĩnh mạch sâu
5.2.2. Viêm tắc tĩnh mạch nông: huyết khối hình thành ở tĩnh mạch bị giãn do tình trạng ứ trệ. Huyết khối có thể trôi vào hệ sâu và xa hơn nữa có thể gây biến chứng thuyên tắc phổi đe doạ tính mạng người bệnh.
5.2.3. Xuất huyết do vỡ tĩnh mạch giãn thường là do chấn thương, có thể chấn thương nhẹ, vào vùng tĩnh mạch giãn, hiếm khi vỡ tự nhiên. Chảy máu có thể nguy hiểm nếu vỡ các thân tĩnh mạch nông chính.
6. Phương pháp điều trị : Có hai giải pháp nội khoa và ngoại khoa..

6.1. Điều trị nội khoa.
– Các bài tập vận động để tăng cường sử dụng chức năng bơm máu của hệ thống cơ chi dưới. Ngăn chặn sự trào ngược và làm các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn như: để chân cao khi nghỉ ngơi, tập cơ mạnh, tránh đứng hoặc ngồi quá lâu, mang tất thun hoặc cuốn chân bằng miếng băng thun, vớ áp lực, tránh các dị tật, béo phì và duy trì chế độ ăn nhiều chất xơ tránh táo bón
– Sử dụng các thuốc làm bền thành mạch như daflon, rutin C…. nhưng chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch là chủ yếu.
6.2. Phẫu thuật:
Thường phải gây tê tủy sống hoặc gây mê toàn thân, giảm sự vận động của bệnh nhân, thời gian hồi phục kéo dài, dễ nhiễm trùng vết mổ, đau và dị cảm sau mổ cao.
6.3. phương pháp can thiệp ít sâm lấn:
Sử dụng các tác nhân vật lý: tia laser công suất cao (W), sóng cao tần, chích xơ.
Ưu điểm: Các phương pháp này hiệu quả, an toàn được áp dụng nhiều trên thế giới. Ít đau, thời gian hồi phục nhanh, hiệu quả trong điều trị giãn tĩnh mạch nông chi dưới.
Nhược điểm: Kỹ thuật thực hiện khó, Khó áp dụng rộng rãi tại các tổ chức y tế. Chi phí cho đầu tư trang thiết bị cao, việc chi trả của người bệnh lớn. Các biến chứng có thể gặp là: phản ứng dị ứng, thuyên tắc xa, hoại tử mô nếu chất tạo xơ thoát ra ngoài lòng mạch, thay đổi sắc tố da và tỷ lệ tái phát cao.
6.4. Điều trị bằng Laser sinh học nội tĩnh mạch Công xuất nhỏ (mW)
6.4.1. Giới thiệu phương pháp:
Laser nội tĩnh mạch có đặc điểm là chỉ kích thích và đặt nguồn phát ở một vị trí nhưng hiệu ứng đi khắp cơ thể vì năng lượng hoạt hóa lan theo dòng máu tác động lên hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu… và dịch thể. Một kim luồn đưa vào mạch máu. năng lượng laser dẫn vào trong lòng mạch máu theo một kim quang sẽ làm hồng cầu linh động hơn, vi mạch máu giãn ra nhanh hơn gấp 2 lần thuốc thông thường, tạo điều kiện phục hồi và khắc phục phần lớn các rối loạn. Hệ thống enzyme được kích hoạt cải thiện trao đổi chất, tăng cường miễn dịch, chu trình hô hấp của tế bào được thúc đẩy tạo điều kiện cho mỗi tế bào trong cơ thể hoạt động một cách hữu hiệu nhất, tự đề kháng lại với tác nhân bệnh lý từ ngoài xâm nhập hoặc chính từ bên trong cơ thể tạo nên, ngăn cản phần lớn các gốc tự do là nguyên nhân phá hủy màng sinh học tế bào.
6.4.2. Ưu nhược điểm của phương pháp: Dễ áp dụng, không dùng thuốc, an toàn, không có phản ứng phụ, pháp huy cao nhất khả năng tự chữa bệnh của cơ thể, hiệu quả điều trị cao.Tỷ lệ tái phát bệnh nhỏ Kinh tế trong đầu tư và giảm thiểu chi phí cho người bệnh. Hạn chế lớn nhất của phương pháp này là thời gian điều trị dài ( đây là nhược điểm lớn nhất của phương pháp Vật lý trị liệu) không áp dụng được cho người bệnh máu không đông.
6.4.3. Tác dụng điều trị:
Năng lượng của laser có tác dụng giảm thiểu tình trạng thiếu oxy ở mô và bình thường hóa quá trình dinh dưỡng, bao gồm cả những tác động chống kết vón và giãn mạch. Những thay đổi này có đặc điểm là tồn tại lâu dài do sự hoạt hóa tạo ra những thay đổi có lợi ở cơ chế vi mạch tuần hoàn, hiệu quả tốt nhất khi người mắc bệnh từ ( độ 1 đến độ 3). Khi chiêu laser vào trong lòng tĩnh mạch sẽ làm cho Mạch máu thông thoáng hơn, các cơ trơn và hệ thống van một chiều được cung cấp đủ dinh dưỡng sẽ dần hồi phục, tăng khả năng đàn hồi của mạch máu… tất cả đem lại nhiều yếu tố có lợi cho sự hồi phục của hệ thống tĩnh mạch chi dưới vì: , Độ xơ vữa mạch máu giảm đi đáng kể; Giảm kết dính tiểu cầu, Hoạt hóa hệ tiêu sợi huyết, Tối ưu hóa phổ lipid máu. Tuần hoàn máu được cải thiện dẫn đến hàng loạt hiệu ứng toàn thân như: Điều chỉnh hệ miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu; Điều hòa hệ thống nội tiết thần kinh; Tăng cường hoạt tính kháng oxy hóa; Tăng khả năng kết hợp oxy với hồng cầu, tăng khả năng vận chuyển oxy trong máu; Giảm kết dính tiểu cầu, hoạt hóa tiêu sợi huyết; Chống rung, chống loạn nhịp, điều chỉnh huyết áp.
6.4.4. Quy trình điều tri.( sử dụng máy laser điều trị hai bước sóng (650 và 808) nm ký hiệu Doctorhome – model: DH18. Điều trị kết hợp cả laser nội tĩnh mạch chiếu trong và laser chiếu ngoài.
Bước 1: Vệ sinh sạch vết thương, vùng phù nề, vùng có hệ thống tĩnh mạch bị suy giãn bằng dung dịch nước muối hoạc dung dịch khử khuẩn thường dùng trong y tế, loại bỏ hết phần da bị hoại tử và thấm khô vết thương;
Bước 2: Sử dụng kỹ thuật Laser Nội tĩnh mạch chiếu trong hoạc chiếu ngoài ( kênh laser 01- 650nm-5mW) Đặt đầu phát tại vị trí cổ tay ; 05 kênh laser chiếu ngoài còn lai (2,3,4,5,6) gồm 02 bước sóng (650 và 808)nm, 220mw trên mày Doctorhome –DH18, chiếu trực tiếp vào vùng da bị tổn thương( phù, xơ mỡ da, suy tĩnh mạch nặng, loạn dưỡng da, loét) và dọc theo hệ thống tĩnh mạch bị suy giãn,. ( thời gian từ (20-30) phút/lần/ngày ( chú ý không đặt đầu phát laser trực tiếp vào vết thương mà phải sử dụng giá định vị đầu phát laser đồng bộ theo máy) nhằm chống viêm giảm phù nể và kích thích sinh trưởng tế bào, diệt khuẩn, tăng thành phần ATP cung cấp năng lượng kích thích nhanh liền vết thương và tăng độ đàn hồi cho thành mạch.
Bước 3. Băng lại vết thương bằng băng gạc y tế (nếu vết thương nở, loét), hạn chế cọ sát và tiếp xúc vết thương với môi trường bên ngoài. (Để tăng khả năng hồi phục, có thể sử dụng thêm thuốc bôi ngoài phủ nên vết thương trước khi băng).
7. Kết luận.
Tại phòng khám “Đường Thiên Y” số 8, tầng 8 , Láng Hạ, Ba Đình , Hà nội và số 20 khu tập thể kho 708, Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội, Nếu người bệnh được điều trị kịp thời( độ 1 và 2), khả năng hồi phục sau (3-4) tuần . Trường hợp bệnh nặng ( độ 3), thời gian điều trị sẽ kéo dài 03 tháng ( mỗi tháng điều trị từ (15- 25) ngày. Nếu để bệnh đến độ 4 mới chữa thì kết quả điều trị phụ thuộc nhiều vào đặc tính cá thể của người bệnh. Đây là một kỹ thuật mới và hiện đại được áp dụng trong chuyên ngành YHCT kết hợp với YHHĐ – Phục hồi chức năng, là phương pháp điều trị không dùng thuốc, không gây đau, không lây truyền bệnh, không để lại di chứng, an toàn, hiệu quả, rễ áp dụng tại các tổ chức y tế và đã giúp cho người bệnh nhanh chóng hồi phục một các toàn diện, sớm hòa nhập cộng đồng. Chúng tôi tự tin và giới thiệu giải pháp để đổng nghiệp và người bệnh tham khảo.
Trân trọng cảm ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *